Điện Biên Phủ và Sự Sụp Đổ của Đông Dương thuộc Pháp, 1954

Trong những năm cuối kháng chiến chống Pháp, Pháp gặp khó khăn trong việc kiểm soát các thuộc địa của mình tại Đông Dương – Việt Nam, Campuchia và Lào. Mặc dù có sự hỗ trợ tài chính từ Hoa Kỳ, các cuộc nổi dậy dân tộc chống lại chế độ thực dân Pháp đã bắt đầu khiến Pháp trả giá đắt. Vào ngày 7 tháng 5 năm 1954, trại quân đội của Pháp tại Điện Biên Phủ ở Việt Nam đã bị rơi vào tay đội quân dân tộc Việt Nam do lãnh đạo của đảng Việt Minh, Hồ Chí Minh, dẫn đầu sau một cuộc bao vây kéo dài bốn tháng. Sau sự sụp đổ của Điện Biên Phủ, Pháp rút khỏi khu vực này. Lo ngại về sự bất ổn khu vực, Hoa Kỳ ngày càng cam kết chiến đấu chống lại các dân tộc cộng sản tại Đông Dương. Hoa Kỳ sẽ không rút khỏi Việt Nam cho đến sau hai mươi năm.

Đông Dương – Trung tâm của Sự Quan Tâm của Các Nước Khác Nhau

Dưới tác động của các nước bên ngoài, Đông Dương đã trở thành một khu vực đáng quan tâm. Hầu hết khu vực này đã rơi vào tay các cường quốc châu Âu sau giữa thế kỷ 19. Trong Thế Chiến II, Nhật Bản cũng tìm kiếm các nguồn tài nguyên từ khu vực này. Sau khi Nhật Bản bị đánh bại, nhiều quốc gia ở Đông Dương bị Nhật Bản chiếm đóng đã phản đối việc trở lại chế độ thực dân, dẫn đến một cuộc nổi dậy dân tộc. Các quan chức Mỹ tham gia vào việc chiếm đóng Nhật Bản cũng phát triển một sự quan tâm mạnh mẽ đối với khu vực này, xem nó như một thị trường tiềm năng cho hàng hóa của Nhật Bản và nguồn cung cấp nguyên liệu (như thiếc, dầu, cao su và gạo) để cung cấp cho công nghiệp của Nhật Bản.

READ  Cụm Tăng Tốc Domino - Bí Mật Đằng Sau Sự Thần Thánh

Sự Cố Gắng Trở Lại của Pháp và Sự Phát Triển Của Phong Trào Độc Lập

Giống như những quốc gia thuộc địa khác, Pháp đã cố gắng khôi phục vị thế của mình tại Đông Dương sau năm 1945, nhưng gặp nhiều khó khăn. Lào giành được độc lập vào năm 1949 và Campuchia trở thành độc lập vào năm 1953. Pháp đã hứa hẹn trao cho Việt Nam quyền tự trị vào năm 1949, nhưng chỉ đưa ra độc lập giới hạn, với Pháp tiếp tục giám sát quốc phòng và chính sách ngoại giao. Để chống lại ảnh hưởng của người lãnh đạo dân tộc Ho Chi Minh, Pháp đã cố gắng trao lại quyền lực cho hoàng đế trước đây Bảo Đại, nhưng ông không bao giờ được yêu mến như Hồ Chí Minh, và phong trào độc lập của Việt Nam tiếp tục phát triển. Bảo Đại cuối cùng đã thoái vị lần thứ hai và sống cuộc sống lưu vong tại Pháp.

Mặc dù Hồ Chí Minh nổi tiếng với việc lãnh đạo lực lượng miền Bắc Việt Nam chống lại Hoa Kỳ trong những năm 1960, dù có khuynh hướng cộng sản, ông không phải là một người chống Mỹ từ đầu. Ông đã thất vọng vì sự thiếu ủng hộ được trao cho những dân tộc bản địa đấu tranh cho độc lập khỏi sự cai trị thuộc địa tại Hội nghị Versailles kết thúc Thế Chiến I. Trong những năm 1940, ông đã liên tiếp yêu cầu sự giúp đỡ của Hoa Kỳ và vận động cho độc lập. Sau cuộc thảo luận không thành công với Pháp vào năm 1946, cuộc chiến tranh chống Pháp xuất hiện giữa lực lượng Việt Minh của Hồ Chí Minh và quân đội Pháp ở miền Bắc Việt Nam.

Lợi ích của Hoa Kỳ và Sự Cam Kết của Mình

Quan tâm của Hoa Kỳ vào cuối những năm 1940 và đầu những năm 1950 không bao gồm việc hỗ trợ Việt Nam trong việc giành độc lập dưới sự lãnh đạo của một người lãnh tụ dân tộc có khuynh hướng cộng sản. Sự nổi loạn cộng sản tại Malaya và Philippines, cùng với việc thành lập Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa vào năm 1949, đã làm cho các quan chức Hoa Kỳ lo lắng. Tổng thống Eisenhower đã giải thích mối liên hệ giữa tình trạng của Việt Nam và tình trạng của các quốc gia Đông Nam Á khác thông qua phép ẩn dụ sao trông thấy: nếu một quốc gia rơi vào chế độ cộng sản, các quốc gia khác sẽ tiếp theo. Hoa Kỳ cũng cần sự giúp đỡ từ Pháp để xây dựng Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) và tái thiết nước Đức phía Tây, và vì vậy đã ủng hộ chế độ Pháp đang suy sụp ở Đông Dương. Đến thời điểm kết thúc chiến tranh Triều Tiên vào năm 1953, Hoa Kỳ đã cam kết không thể thay đổi để bảo vệ Pháp khỏi lực lượng Việt Minh ngày càng táo bạo.

READ  Hướng Dẫn Sửa Lỗi Hay Gặp Ở Xe Đạp Điện: Các Bạn Đã Biết Chưa?

Cuộc Bao Vây Điện Biên Phủ và Sự Rút Lui Của Pháp

Đầu năm 1954, Quân đội Pháp đã trại lại Điện Biên Phủ, một căn cứ được bảo vệ mạnh mẽ nằm sâu trong một thung lũng và gần các đường thông tin biên giới với Lào. Đến giữa tháng Ba, rõ ràng rằng Pháp đang gặp khó khăn trong việc chịu đựng cuộc bao vây của Việt Minh và chỉ có sự can thiệp từ bên ngoài dưới hình thức các lực lượng mới hoặc các cuộc không kích có thể cứu vãn tình thế cho họ. Mặc dù Tổng thống Eisenhower quyết tâm ngăn chặn việc cộng sản chiếm thắng lợi ở Việt Nam, Đại hội đồng và các quan chức trong chính quyền cũng quyết tâm không can thiệp trừ khi có thể làm như vậy là một phần của một liên minh lớn hơn. Anh và các thành viên khác của NATO đã từ chối tham gia cứu hộ những gì họ cho là một nguy cơ đã bị mất. Điện Biên Phủ đã sụp đổ vào tháng 5, và Pháp rút lui khỏi Việt Nam.

Sau thất bại của Pháp, Pháp và Việt Nam, cùng với đại diện từ Hoa Kỳ và Trung Quốc, đã họp ở Geneva vào giữa năm 1954 để thảo luận về tương lai của Đông Dương. Họ đã đạt được hai thỏa thuận. Đầu tiên, Pháp và Việt Minh đồng ý ngừng bắn và tạm chia đất nước thành hai phần theo vĩ tuyến 17. Lực lượng Pháp sẽ ở lại miền Nam và lực lượng của Hồ Chí Minh sẽ kiểm soát miền Bắc. Thỏa thuận thứ hai hứa hẹn rằng cả miền Bắc và miền Nam đều không tham gia liên minh với các bên ngoại vi, và đề ra cuộc tổng tuyển cử vào năm 1956. Lào và Campuchia sẽ giữ thái độ trung lập.

READ  Honda Scoopy 2023: Xu hướng mới đẳng cấp tại thị trường xe ga

Hoa Kỳ không ký kết thỏa thuận thứ hai, thay vào đó thành lập chính phủ riêng của mình tại miền Nam Việt Nam. Khi Pháp rút khỏi, Hoa Kỳ đã bổ nhiệm Ngô Đình Diệm để dẫn dắt miền Nam Việt Nam. Giống như Bảo Đại, Diệm không phải là một sự lựa chọn được yêu thích tại Việt Nam vì ông đã chờ đợi cuộc cách mạng dân tộc chống Pháp ở nước ngoài. Diệm cũng đã cộng tác với quân đội Nhật Bản, nhưng đức tin Công giáo của ông hấp dẫn các cường quốc phương Tây. Hoa Kỳ cũng ủng hộ việc thành lập Tổ chức Hiệp ước Đông Á, nhằm phản ứng nếu có một cuộc tấn công vũ trang vào bất kỳ quốc gia nào trong khu vực.